| Rượu Mới Bầu Mới |
|
|
| Thứ hai, 27 Tháng 7 2009 14:01 | |||
|
Sau khi nhậm chức và được thụ phong, tôi đi trường Kinh Thánh. Những chủng viện tôi đã học qua gồm có: Midwestern Baptist Theological Seminary, Southwestern Baptist Theological Seminary, Capital Bible Seminary. Gặp giờ học nào về sự cứu rỗi, tôi thường nêu câu hỏi trên. Tất cả giáo sư đều trả lời giống như vị mục sư Mỹ đã trả lời thế cho tôi trước hội đồng phong chức. Ðặc biệt là Giáo sư Thomas Edgar, dạy chữ Hy Lạp Tân Ước, nói rằng chính ông đã hỏi một mục sư Hoa kỳ rằng tại sao ông bẻ cong lời Chúa (twist God’s word) mà giảng rằng người tin Chúa có thể mất sự cứu rỗi. Vị này đáp rằng vì không muốn khích lệ tín đồ phạm tội.
Giải Thích
Giáo lý nhấn mạnh sự cứu rỗi có tên là’’ The Doctrine of Perseverance. ’’Giáo lý này đã được khởi xướng lâu đời trong diễn tiến lịch sử sau đây:
Bênh Vực : Augustine of Hippo, sinh năm 354, là người đã khởi xướng giáo lý này. Ðồng ý với Augustine, có John Calvin, người lãnh đạo phong trào cải chánh trong giáo hội Pháp. Quan điểm của ông đã được nêu lên trong Westminster Confession of Faith năm 1643, và cũng là tài liệu căn bản cho niềm tin của hai hệ phái Trưởng Lão (Presbyterian) và Báp-tít. Riêng hệ phái Báp-tít, câu căn bản cho niềm tin về sự cứu rỗi tại hội đồng Luân đôn năm 1646 là :’’ Mọi người có niềm tin quý báu do Ðức Thánh Linh mang đến chẳng bao giờ bị hư mất.’’ Millard J. Erickson, giáo sư Southwestern Baptist Theological Seminary, trong quyển Christian Theology, viết,’’ Lời nói thực tế cho kiến thức chúng ta về giáo lý không mất sự cứu rỗi là tín đồ có sự bảo đảm rằng họ hằng có sự cứu rỗi. Chẳng có gì tách họ ra khỏi tình yêu của Ðức Chúa Trời. Như thế họ có thể vui mừng trong triển vọng hưởng sự sống đời đời.’’ (trang 996). Giáo sư Charles C. Ryrie của chủng viện Dallas Theological Seminary, trong quyển A Survey of Bible Doctrine, viết,’’ Giáo lý an toàn, theo sự phân tách cuối cùng này, tùy thuộc điều Ðức Chúa Trời đã thực hiện. Vậy nếu người ta mất sự cứu rỗi, thì một số công việc của Chúa cũng chưa hoàn tất hoặc làm ngược lại’’ (trang 132). Edwin A. Blum, giáo sư môn Historical Theoloy của chủng viện Dallas, trong quyển the Bible Knowledge Commentary, khi bình luận câu GIăng 10:28, viết,’’ Ðây là một trong những câu Kinh Thánh rõ ràng nhất nói rằng người nào tin Chúa Jêsus để được cứu rỗi thì sẽ chẳng bao giờ bị hư mất. Người tín đồ có phạm tội và vấp ngã, nhưng Chúa Jêsus là Ðấng chăn chiên hoàn toàn chẳng để mất một người nào trong đàn chiên của Ngài. Sự sống đời đời là một sự ban cho. Nếu một người đã nhận nó thì có sự sống đời đời’’ (trang 311). Giáo sư Robert P. Lightner dạy môn Systematic Theology chủng viện Dallas từ 1968, trong quyển Evangelical Theology, viết, ‘’ GIáo lý về sự an toàn và không mất sự cứu rỗi, theo tôi, có thể được bênh vực theo nền tảng thần học và Kinh Thánh: Có sự an toàn theo lời Chúa hứa (Rô-ma 8:31-39). Sự hiện diện của Chúa đem lại sự an toàn (Giăng 10:27-30). Có quyền năng của Chúa, người tín đồ được bảo vệ ( I Phi-e-rơ 1:3-5)’’ (trang 211). Cũng còn rất nhiều học giả khác bênh vực lý thuyết này.
Dẫn chứng bằng Kinh Thánh : Theo Ga-la-ti 3:1-5, Phao-lô hỏi người Ga-la-ti tại sao đã nhờ Ðức Thánh Linh mà còn dựa vào xác thịt ? Có nghĩa là vừa nhờ Chúa, vừa ỷ vào sức con người ? Theo Giăng 6:37, Chúa không bao giờ loại bỏ người nào đến cùng Chúa. Giăng 6:40, hễ ai tin Chúa Jêsus thì có sự sống đời đời. Giăng 10:27-29, Chúa không để mất một người nào thuộc về Chúa. Theo Giăng 17:11-12, 230, Chúa Jêsus cầu thay cho con cái Chúa. Rô-ma 8:26-27, Ðức Thánh Linh cầu thay cho chúng ta khi chúng ta yếu đuối. Ma-thi-ơ 18:21-22, Chúa dạy chúng ta tha thứ nhau 70 lần 7. Còn Chúa tha chúng ta bao nhiêu lần ? Chúa có giao ước với Y-sơ-ra-ên, và dù dân tộc họ có bỏ Chúa, Ngài vẫn không bỏ họ (Rô-ma 11:1).
Biện luận:
1.- Nét Ðộc Ðáo: Cơ đốc giáo có một nét độc đáo hơn các tôn giáo nào khác trên thế giới từ xưa đến nay. Nét độc đáo đó là sự chết của Ðức Chúa Jêsus Christ trên thập tự giá để cứu nhân loại. Chúa Jêsus phán, ‘’ Ai ăn thịt và uống huyết Ta thì được sự sống đời đời’’ (Giăng 6:54). Sự cứu rỗi hoàn toàn là do công việc của Ðức Chúa Trời, chớ chẳng phải do công lao loài người. GIáo lý này không cần làm theo luật pháp nữa. Chúa Jêsus trả lời câu hỏi của người Pha-ri-si về phép kiêng ăn bằng thí dụ dễ hiểu: Rượu mới phải đựng trong bầu mới (Ma-thi-ơ 9:17), nghĩa là không thể pha trộn giáo lý vừa tin Chúa vừa làm theo luật pháp. Hội đồng đầu tiên của Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem đã có quyết định miễn cho người ngoại phép cắt bì khi tin Chúa Jêsus (Công vụ 15:1-29). Phao-lô giải thích điều này cho Hội Thánh Ga-la-ti ‘’ Ấy vậy, luật pháp đã như thầy giáo đặng dẫn chúng ta đến Ðấng Christ, hầu cho chúng ta bởi đức tin mà xưng công bình’’ (Ga-la-ti 3:25). Vậy nếu lý luận rằng muốn được lên thiên đàng, chúng ta cần tin Chúa và cũng cần làm điều lành nữa, thì chúng ta đựng rượu mới trong bầu cũ rồi, y như người Pha-ri-si đòi hỏi trong hội đồng đầu tiên là người ngoại cần làm phép cắt bì và tin Chúa thì mới được cứu vậy.
2.- Chỉ Một Lần Thôi: Khi một người tin Chúa Jêsus thì người đó được trở nên con cái Ðức Chúa Trời. Thiên sứ trên trời vui mừng vì một người có tội ăn năn (Lu-ca 15:7,10), người đó không bị xóa tên trong sách sự sống (Khải Huyền 20:15). Lý luận rằng người trin Chúa có thể mất sự cứu rỗi, thì sau khi người đó phạm tội, tên người đó bị xóa trong sách sự sống. Người đó ăn năn, lại được ghi tên vào. Rồi người đó phạm tội, lại bị xóa. Ghi rồi xóa, rồi ghi, rồi xóa. Cứ lập đi lập lại như vậy mãi.Tin được không? Tôi tin rằng một khi tên đã được ghi vào sách sự sống rồi thì không có sự thay đổi.
3.- Chứng Một Lần Thôi: Chính Ðức Thánh Linh giúp cho tội nhân tin Chúa Jêsus và được tái sinh (Giăng 3:5-6). Ðức Thánh Linh báp-têm cho người đó vào Hội Thánh ( I Cô-rinh-tô 12:13). Ðức Thánh Linh ấn chứng cho tín đồ đến ngày cứu chuộc ( Ê-phê-sô 1:13; 4:30).Theo lý luận mất sự cứu rỗi, khi phạm tội, tín đồ sẽ chết phần thuộc linh, Ðức Thánh Linh ra khỏi người đó, rút ấn chứng khỏi người tín đồ. Vậy, theo lý luận mất sự cứu rỗi, tín đồ tái sinh, rồi chết, rồi tái sinh, rồi chết. Ðức Thánh Linh vào ngưồi tín đồ khi tái sinh, ra khỏi tín đồ khi người đó phạm tội. Vào rồi ra, lại vào rồi ra. Chứng rồi bỏ, lại chứng rồi bỏ. Tin được không ? Tôi tin rằng khi Ðức Thánh Linh vào một con người thì Ngài ngự trong con người đó đến ngày người đó bước vào thiên đàng, theo giáo lý ‘’the Indwelling of the Holy Spirit ‘’ (Ðức Thánh Linh ngự).
4.- Ðược Làm Con Chúa : Một gia đình cò bốn người con, ba người rất ngoan, một đứa mất dạy, làm phiền cha mẹ. Có cha mẹ nào từ bỏ con, cho nó ở tù hay giết nó không? Nếu có, người đó mới nghĩ rằng Chúa sẽ không cứu tín đồ phạm tội. Có cha mẹ nào thấy đứa con của người hàng xóm ngoan hơn con mình, rồi bỏ con mình và đi nhận con hàng xóm làm con mình không? Chắc chắn không, vì nó là con của người hàng xóm, chứ đâu phải con mình, mà đứa đó cũng chẳng thèm nhận mình là cha mẹ nó. Cũng vậy, một khi tin Chúa Jêsus rồi, dù mình chưa được trưởng thành, mình vẫn là con Chúa. Dù loài người có làm lành, lánh dữ thế mấy mà không tin Chúa để trở thành con cái Chúa thì đâu có sự cứu rỗi.
5.- Tiêu Chuẩn Ðạo Ðức : Tôi thường nghhe câu hỏi này nơi cửa miệng người tín đồ Ðấng Christ khi hay tin một tín đồ khác qua đời, ‘’ Không biết ông ấy có được lên thiên đàng không?’’ Hỏi câu đó, người còn sống định giá tội lỗi người qua đời. Có lẽ ông đó đã giết người, trộm cướp, gian dâm, bất hiếu . . .Người ta không hiểu tội nào được Chúa tha, tội nào làm cho mất sự cứu rỗi. Có lẽ người ta định rằng những tội tày trời như giết người, trộm cướp, gian dâm, bất hiếu, gian tham sẽ chắc chắn không được lên trời. Còn những tội nho nhỏ vô hại cho người khác như nói láo chút chơi, trốn thuế chính phủ, làm ít báo cáo nhiều, gây bè nhóm trong hội thánh, giận dai, nói vu, biếng nhác là tội nhỏ, chắc Chúa tha. Lấy đạo đức cỡ nào làm tiêu chuẩn cho người tốt, người xấu? Có cây thước nào đo được chiều cao đạo đức con người, có cái cân nào cân được sức nặng đạo đức con người để trình lên Chúa rằng đủ để bước vào thiên đàng chưa? Khó lắm. Chính mình trước khi chết cũng hoang mang không biết sống thế này đã làm vừa lòng Chúa chưa. Có nhiều người phạm tội kín dấu, đời nào xưng tội trước công chúng, giữa hội thánh. Ðến ngày người đó qua đời, người ta đọc bài cảm tưởng hay tiểu sử cuộc đời, toàn là tiếng khen. Nghe bài đọc đó, Chúa trên trời lắc đầu, vì Chúa thấy hết và sự thật không phải như vậy.
6.- Không khích Lệ Phạm Tội : Nếu đọc các thư tín của Phao-lô, chúng ta sẽ thấy sách nào cũng có hai phần: Phần đầu gồm có lý thuyết thần học, phần cuối là lời khuyên thực tế về bổn phận làm người như con cái, cha mẹ, vợ chồng, bạn hữu, làm chủ và làm công, đối với chính quyền. . .Sách Ê-phê-sô từ đoạn 1 đến đoạn 3 nói về cái phước của người tín đồ; từ đoạn 4 đến đoạn 6 dạy về đạo đức, các bổn phận. Thơ Cô-lô-se dạy, ‘’ Lúc trước anh em sống trong những nết xấu đó, và ăn ở như vậy. Nhưng bây giờ anh em nên trừ bỏ hết mọi sự đó, tức là sự thạnh nộ, buồn giận và hung ác’’ (Cô-lô-se 3:7-8).
7.- Những câu chuyện thật:
(1) Sau khi cuộc cách mạng nước Pháp lật đổ vua Louis 16 thành công năm 1789, hoàng tử bị bỏ vào ngục giam chung với đám lưu manh. Bọn lưu manh dạy hoàng tử nói tục, chưởi thề. Hoàng tử chống cự và nói, ’’ Các ông nên nhớ tôi là con vua, không bao giờ nói bậy nhé.’’ Ðó là hình ảnh trưởng thành của tín đồ Ðấng Christ. Giữ gìn đạo đức để xứng đáng với danh hiệu hoàng tử nước thiên đàng, chứ không phải giữ đạo đức để được lên thiên đàng. Nếu giữ đạo đức để được lên thiên đàng thì chúng ta theo giáo lý cố sức nổ lực diệt trừ tham sân si để được vào cõi cực lạc, và theo luật pháp của người Pha-ri-si rồi. Rượu mới lại đựng trong bầu cũ sao?
(2) Một nữ giáo sư trung học tôi quen nói với tôi rằng cô từ chối không chịu tin Chúa lúc đầu vì cô nghĩ rằng cô đã sinh ra và lớn lên được giáo dục trong một gia đình nề nếp, đạo đức, cô không có tội gì hết. Cho đến khi được giải thích cô có tội từ trong lòng mẹ như Ða-vít viết,’’ Mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi’’ (Thi-thiên 51:5), cô mới chịu nhận Chúa vào lòng.
(3) Ðạo đức con người không đủ sức cứu rỗi đâu. Không một chỗ nào trong Kinh Thánh khích lệ tín đồ phạm tội, cũng như không một vị mục sư nào giảng bài giảng khích lệ tín đồ phạm tội. Có một lần, trong khi giảng tại một nhà thờ bạn, tôi hỏi,’’ Có ai ở đây từng giết người không? từng phạm tội ngoại tình không?’’ Tôi thấy đa số lắc đầu, tức trả lời không có. Tôi quả quyết rằng có, rồi nói rằng,’’ Tôi sẽ chỉ cho quý vị biết là có kẻ sát nhân tại đây, và cũng có người ngoại tình trong thính đường này.’’ Họ nhớn nhác, người nào cũng lo không biết ai đây. Ðến khi tôi đọc cho họ Ma-thi-ơ đoạn 5:21-32, và giải thích rằng hễ giận là phạm tội sát nhân, nhìn người đàn bà mà động tình tham muốn trong lòng thì đã phạm tội tà dâm, lấy người đàn bà ly dị thì cũng phạm tội tà dâm rồi, họ mới hiểu ai cũng từng phạm những tội này.Ai không từng giận, ai chưa từng nhìn nữ sắc mà ưa thích? Hãy thành thật với chính mình đi. Nếu không, mình sẽ trở thành giả hình. Vậy, sự phạm tội là dễ dàng. Nhiều người mắc phải lắm. Bao nhiêu người sẽ được vào thiên đàng? Diệt hết tham sân si để được bước vào miền cực lạc thì bao nhiêu người được vào đó? Hỏi tức trả lời.
8.- Phi-e-rơ và Giu-đa Ích-ca-ri-ốt: Có người phân biệt trường hợp Phi-e-rơ chối Chúa và Giu-đa bán Chúa, rồi Phi-e-rơ được cứu nhờ ăn năn, còn Giu-đa không ăn năn nên mất sự cứu rỗi. Về Phi-e-rơ, tôi thấy ba sách chép ông khóc, như ‘’ khóc lóc đắng cay’’ (Ma-thi-ơ 26:75), ‘’ khóc lóc thảm thiết’’ (Lu-c a 22:62), ‘’ và ‘’khóc’’ (Mác 14:72). Giăng không nói gì hết về việc Phi-e-rơ khóc. Tôi cũng cố đọc đi đọc lại các sách Phúc Âm mà không thấy có chữ nào nói Phi-e-rơ ăn năn. Trong khi đó, Ma-thi-ơ 27:3 ghi, ‘’ Khi ấy, Giu-đa là kẻ đã phản Ngài, thấy Ngài bị án, thì ăn năn.’’ Chắc một số vị lý luận rằng Giu-đa ăn năn giả, nên mất sự cứu rỗi. Nếu quý vị đọc tiếp Ma-thi-ơ thì sẽ thấy Giu-đa tìm các thầy tế lễ cả để trả triền lại, bị họ từ chối, ông ta ném tiền vào đền thờ rồi tự tử bằng cách treo cổ. Vậy là ăn năn thật hay giả ? Nhưng tại sao Giu-đa mất sự cứu rỗi? Xin thưa: vì Giu-đa không tin Chúa như cách Phi-e-rơ tin. Giu-đa đã theo Chúa Jêsus như theo một vị lãnh tụ quân sự, hy vọng có ngày Chúa lật đổ chính quyền La-mã, lên ngôi, Giu-đa sẽ làm lớn trong triều đình. Giu-đa coi Chúa Jêsus như Judas Maccabeus 200 năm trước đó đã chống đối ngoại bang giải phóng dân tộc. Vua Ða-vít và tiên tri Xa-cha-ri đã tiên tri về Giu-đa từ lâu rồi, như lời của Phi-e-rơ trong Công Vụ 1:16-20. Và chính Chúa Jêsus đã nói về Giu-đa là ‘’ đứa con của sự hư mất’’ (GIăng 17:12). Giu-đa không trật phần ân điển, vì có ân điển gì cho y đâu mà mất, y chỉ theo Chúa mà không tin Chúa. Y không mất sự cứu rỗi, vì có sự cứu rỗi cho y đâu mà mất. Lý thuyết trật phần ân điển không thể áp dụng cho Giu-đa đâu, vì y vốn là tên trộm và là ‘’ đứa con của sự hư mất.’’
Chống Ðối Giáo Lý Này:
Những học giả cũng như các hệ phái không chấp nhận giáo ký này gồm có:
1.- Giáo hội La-mã: Ðiều 16 của hội đồng công giáo La-mã họp tại Trent công bố,’’ Một người được xưng công bình không phạm tội nữa thì mới không mất phần ân điển; vì thế nếu phạm tội sẽ chẳng bao giờ được xưng công bình.’’ Người tín đồ La-mã tin có lò luyện tội, nơi linh hồn người chết đến ở, chờ có sự cầu hồn trên dương thế mới được cho về thiên đàng. Do đó, chúng ta thường thấy câu chúc: ’’ Cầu nguyện cho linh hồn cụ sớm về nước Chúa ‘’ chỉ vì họ không tin vào giáo lý không mất sự cứu rỗi.
2.- Martin Luther, Jacob Arminus và nhóm thánh thiện: Tin rằng con người do sự biếng nhác, chểnh mảng và không thánh thiện sẽ mất sự cứu rỗi dù đã tin Chúa rồi.
Chấp Nhận Giáo Lý Này Ðược Lợi Gì?
Tôi tin rằng Chúa không thay đổi sự cứu rỗi đối với tôi, vì Chúa có đặc tính thành tín như Cha yêu con (Hê-bơ-rơ 13:8). Chúa luôn tha thứ tôi như Ngài đã dạy tôi tha thứ kẻ khác. Chúa luôn cầu thay cho tôi. Chúa luôn bảo vệ tôi như chiên của Ngài. Chúa cho tôi hy vọng, sự bảo đảm và bình an. Chúa cho tôi vững lòng nhắm mắt, mà không hoang mang lo sợ mình bị trật phần ân điển. Một lợi điểm nữa mà tôi có được là khi truyền lời Chúa cho người chưa tin, tôi quả quyết cùng họ rằng nếu tin Chúa thì tội họ sẽ được tha, linh hồn được cứu.
Hỏi ai?
Giáo lý này được các giáo hội Báp-Tít, Trưởng Lão ( Presbyterian ) và Bible Church công nhận. Ít nhất ba giáo hội này tin vào giáo lý không mất sự cứu rỗi. Quý vị có thể tham khảo thêm với quý vị mục sư các hội thánh đó. Còn nếu hỏi quý vị mục sư và tín hữu các hệ phái khác, tôi nghĩ quý vị sẽ không được hài lòng, vì một số hệ phái không chấp nhận lý thuyết này. Và như lời nói đầu tiên trước khi viết các đề tài về thần học, tôi đã trình bày trước rằng có thể tôi được giáo dục ở một trường có giáo lý khác với một số độc giả. Chấp nhận hay không là quyền quý vị. Riêng tôi, tôi đã tin rằng tôi không mất sự cứu rỗi đời đời.
Mục Sư Lâm Văn Minh
|
|||
| Lần cập nhật cuối, Thứ hai, 27 Tháng 7 2009 19:54 |


Một Câu Hỏi Đặc Biệt: Tại hội đồng Giáo Hội Báp-Tít Phương Nam (the Southern Baptist Convention) ở thành phố Fort Smith, Arkansas để phong chức mục sư thực thụ cho tôi vào năm 1984, một câu hỏi được nêu lên: ‘’ Cơ-đốc nhân thật, sau khi tin Chúa mà còn phạm tội, có mất sự cứu rỗi không?’’ Một mục sư Mỹ cùng ra hội đồng một lượt với tôi đã lẹ miệng trả lời, ‘’ Không. Một Cơ đốc nhân thật không bao giờ mất sự cứu rỗi.’’ Tất cả đều đồng ý.
Tôi hơi lúng túng cho câu hỏi đó, vì từ khi tin Chúa năm 1947 tôi được dạy rằng tin Chúa mà phạm tội thì vẫn mất sự cứu rỗi. Lời dạy đó làm tôi hoang mang lo sợ đến nỗi có một lần tôi nằm mơ thấy mình bị để lại lúc Chúa tái lâm, năm đó tôi mới 13 tuổi.