Trang Nhà Biên Tập Nhớ Ơn Ngài Tôi Khóc

Who's Online

Hiện có 5 khách Trực tuyến

Đăng Nhập



Chương Trình Sinh Hoạt

Chúng tôi có các chương trình bằng Việt ngữ cho người lớn và Anh ngữ cho các em tuổi trung học trở xuống như sau.

 

Vietnamese-Speaking Programs

Sunday Devotion:

09:00am — 09:30am

Sunday Bible Classes:

09:30am — 10:15am

Sunday Worship Service:

10:30am — 12:00pm

Friday Night Bible Study:

08:00pm — 09:30pm

 

Youth's English-Speaking Programs

Sunday Bible Classes:

09:30am — 10:00am

Sunday Devotion:

10:00am — 10:30am

Sunday Worship Service:

10:30am — 11:30pm

Friday Night Life-Issues Discussion:

08:00pm — 08:30pm

Friday Night Music Lessons:

08:30pm — 09:30pm

 

We also have various activities during weekdays. Please contact us for more information.

 

Youth Group's Website: 

www.facebook.com/

Thanh Nien Orlando Baptist

 

Quản Nhiệm:

Mục sư Lâm Văn Minh
Điện Thoại: 407-883-5154

 

Địa Chỉ Hội Thánh:

5838 W. Amelia St.

Orlando, FL 32835

View Map

 

 

Từ điển tiếng Việt

Tra từ điển:

 

Nhớ Ơn Ngài Tôi Khóc In Email
Thứ sáu, 14 Tháng 8 2009 09:29


NHỚ ÂN NHÂN, TÔI KHÓC !
Trong những ngày đầu tháng chín vừa qua, tôi đi Westminster, California để giảng cho một trại. Nhơn dịp  này, tôi nhờ người cháu gái của nhà tôi chở tôi đến thăm bà chị nuôi người Mỹ của tôi, Bà D’Anne Buckley tại Lakewood. Tôi định bụng làm cho bà ngạc nhiên, mà không gọi điện thoại báo trước. Vì bận việc, tôi không liên lạc với bà hơn một năm.
Khi chiếc xe chạy trờ tới nhà bà, thấy tấm bảng For Sale dựng trước nhà, tôi sững sờ, tưởng bà bán nhà để về ở chung với con cái trong tuổi hoàng hôn. Tôi thấy hai chiếc xe đậu trước cửa nhà, liền bước vào hàng ba gõ cửa, chợt thấy một người đàn ông từ nhà bước ra. Ông ấy là Matthew, con trai duy nhất của bà, nhận ngay ra tôi, cho tôi biết bà đã qua đời trên một năm, vào ngày Thứ Bảy, trước Ngày Từ Mẫu vào tháng năm, năm rồi ( 2008 ) !


Matthew trao tăng tôi quyển Kinh Thánh của bà, nói rằng:’’ Mẹ tôi cho đi tìm anh trước khi bà về Nước Chúa! Chúng tôi làm hết cách mà không gặp.’’  
Từ giả Matthew, vào xe, tôi cúi đầu thổn thức cầu nguyện! Tôi khóc như một thí sinh vừa đọc thấy không có tên mình trong danh sách người trúng tuyển trong một kỳ thi quan trọng tại Việt Nam trọng thời Pháp thuộc. Gia đình này là đại ân nhân của gia đình tôi. Chồng bà, Ông Blaine Buckley, nguyên phó thuyền trưởng chiếc thương thuyền The Leshly Likes, người đã nài nỉ vị thuyền trưởng vớt chiếc ghe chúng tôi vào lúc trời giông bão trên Thái Bình Dương vào khoảng năm giờ chiều  ngày 5 tháng 10 năm 1980, khi chiếc ghe nhỏ bề ngang một thước rưởi, bề dài mười hai thước, chở lúa trên sông Sóc Trăng, với chiếc máy cày Kubota L 200, chở 47 người, 24 đàn ông con trai, 13 đàn bà con gái, và 10 đứa bé, nhỏ nhất chưa đầy 20 tháng tuổi, đang chạy trên Thái Bình Dương tìm đường sống ! Trên chiếc tàu lớn đang dừng lại, một cuộc đối thoại liên quan đến sự sống chết của 47 người Việt Nam này diễn ra sôi nổi  giữa bốn người trong tập đoàn lãnh đạo của chiếc tàu: Vị thuyền trưởng và hai người kia không chấp thuận vớt ghe tỵ nạn, chỉ một mình ông thuyền phó Blaine Buckley bất đồng ý kiến.
Vị thuyền trưởng cho biết sẽ cho nhiên liệu, thuốc men mà không vớt. Ông Blaine Buckley nói với thuyền trưởng đang đứng trước mặt tôi, ‘’ Đêm nay, nếu anh để chiếc ghe này tiếp tục đi theo phương tiện của họ, chính anh là người đào mồ tại Thái Bình Dương này chôn họ!’’ Vị thuyền trưởng bỏ vào cabin gọi tòa đại sứ Hoa-kỳ ở Thái Lan. Còn lại chỉ có Ông Blaine Buckley và tôi. Tôi nói,’’ Xin ông vớt chúng tôi. Cầu xin Chúa Jêsus Christ ban phước lành cho ông và quý quyến.’’ Ông đáp ngay,’’ Anh yên tâm. Tôi đứng về phía anh, sẽ cố hết sức giúp anh. Tôi cũng là Cơ đốc nhân như anh.’’ Khoảng mười phút sau, thuyền trưởng đến báo tin mừng:’’Chấp nhận!’’

NHỚ ƠN CHÚA,TÔI KHÓC !                                                                                                          
Đêm đó, trong khi mọi người đang an giấc, tôi quỳ gối, ngước mặt nhìn lên trời, chấp tay, vừa mở lời, ‘’ Lạy Chúa Jêsus !’’, thì những giọt nước mắt  tự dưng tuôn trào ướt mặt, như một đứa con nít mừng gặp lại mẹ sau những năm tháng dài xa cách, còn hơn nửa, như một bệnh nhân mang chứng nan y, được vị lương y cứu sống sau những năm dài nằm liệt trên giường.
Đã gần ba mươi năm rồi, tôi không thể quên được hành ảnh chiếc tàu cứu sinh đã vớt chiếc ghe mỏng manh mà tôi là người chịu trách nhiệm trong việc tổ chức một cuộc vượt thoát. Câu chuyện đó cũng là một trong những lý do chính thúc đẩy tôi bước vào chức vụ chăn bầy của Đức Chúa Trời từ năm 1982 cho đến nay. Tôi nhớ quá khứ, nhìn hiện tại và nghĩ đến tương lai, gật đầu công nhận:
1.- Kinh Thánh:  là  quyển kim chỉ nam của cuộc đời tôi, chỉ cho tôi thấy một Đức Chúa Trời có quyền năng vĩ đại.
2.- Đức Chúa Trời: là  Đấng Tạo Hóa, thánh khiết, công bình, bất biến, nhơn từ, yêu thương và tha thứ.
3.- Đức Chúa Jêsus Christ: là Đấng đã giáng thế làm Con Người, chết thay cho tôi trên cậy thập tự, đã được chôn, sống lại, thăng thiên và hứa sẽ trở lại địa cầu lần nữa với tư cách một Vị Vua, nắm quyền cai trị nhân loại trong một ngàn năm thái bình, và sẽ xét xử cả thế gian. Câu chuyện chiếc ghe được vớt đã giúp tôi nghĩ ngay đến sự cứu rỗi của Đức Chúa Jêsus Christ ban cho nhân loại.
4.- Đức Thánh Linh: là Đấng đã giáng lâm vào ngày lễ ngũ tuần, ngự vào lòng người, ban cho sự cứu rỗi, sự chữa bệnh, thực hiện các quyền năng, phép lạ, và  cầu thay cho con dân Ngài: Chính tôi đã chứng kiến nhiều phép lạ trong đời sống, và kinh nghiệm sự chữa lành nhiều chứng bệnh như siêu vi gan, cao máu, tiểu đường, loạn tim, bao tử, phổi, bướu cổ và vài chứng bệnh khác nữa.
5.- Ba Ngôi Đức Chúa Trời: đã ban phước lành cho nhân loại như:
a.- Tạo ra vũ trụ, địa cầu, và con người.
b.- Ban dưỡng khí, nước, rau cải, trái cây, mọi thức ăn, chất liệu cho con người chế ra thuốc men trị bệnh, dầu khí cho con người chạy máy móc, và quặng mỏ cho con người sử dụng trong mọi tiện nghi đời sống hằng ngày.
c.- An ủi, thêm sức sống cho con dân Chúa, như Lời Chúa:’’ Ngài ban sức mạnh cho kẻ nhọc nhằn, thêm lực lượng cho kẻ chẳng có sức. Những kẻ trai trẻ cũng phải mòn mỏi mệt nhọc, người trai tráng cũng phải vấp ngã. Nhưng ai trông đợi Đức Giê-hô-va thì chắc được sức mới, cất cánh bay cao như chim ưng, chạy mà không mệt nhọc, đi mà không mòn mỏi.’’(Ê-sai 40:29-31 ).
Nhận nhiều phước lành như vậy, lẽ nào con người vô ơn, hờ hững với Chúa. Bài thơ ‘’ Ơn  Thầy ‘’ đã  kêu gọi học sinh nhớ ơn thầy dạy:
‘’Công thầy khai hóa cũng bằng công sinh.
Đã không kết cỏ ngậm vành,
Lẽ nào phụ bạc cho đành trẻ ôi.
Tập chi thói bạc như vôi,
Sân Trình vừa khỏi đã bôi mặt mày.’’
Vua Đa-vít, tác giả Thi-thiên 103, lòng nói với lòng phải nhớ ơn Đức Chúa Trời:’’ Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, Chớ quên các ân huệ của Ngài.’’ Rồi , nhà vua kể ra những phước lành Đức Chúa Trời đã làm cho ông như sau:
1.- Phước tha tội:’’ Đức Giê-hô-va có lòng thương xót, hay làm ơn, Chậm nóng giận, và đầy sự nhân từ. Ngài không bắt tội luôn luôn, Cũng chẳng giữ lòng giận đến đời đời.’’ ( Thi-thiên 103:8-9).
2.- Phước chữa bệnh: ‘’ Chữa lành mọi tật bệnh ngươi’’ ( Thi-thiên 103: 3b)
3.- Phước ăn ngon:’’ Ngài cho miệng ngươi được thỏa các vật ngon.’’ ( Thi-Thiên 103: 5a).
4.- Phước công bình:’’ Đức Giê-hô-va thi hành sự công bình, và sự ngay thẳng cho mọi người bị hà hiếp.’’ ( Thi-thiên 103: 6).

NHỚ ƠN CHÚA, TÔI TRẢ ƠN !
Nếu phải kể ra hết tất cả những ơn phước Đức Chúa Trời đã ban cho, thì không giấy mực nào có thể ghi lại hết được. Người biết ơn, nhớ ơn thì cũng nên trả ơn. Con người không có cách nào trả ơn hết cho Đức Chúa Trời được, vì ơn quá lớn lao. Con người có thể:
1.- Ngợi khen Đức Chúa Trời, như vua Đa-vít đã nói:’’ Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va ! Mọi điều gì ở trong ta hãy ca tụng danh thánh của Ngài ! ‘’ ( Thi-Thiên 103:1).
2.- Rao truyền ơn phước Chúa cho mọi người nghe, như người đàn bà Sa-ma-ri bỏ vò nước, chạy nhanh về làng báo cho dân hay tin mừng:’’  Hãy đến xem một người đã bảo tôi mọi điều tôi đã làm; ấy chẳng phải là Đấng Christ sao ?’’ ( Công Vụ 4:29)
3.- Dâng hiến Dâng hiến cho Chúa như bà Ma-ri Ma-đơ-len gia nhập đoàn yểm trợ tài chính cho cuộc truyền giáo của Chúa Jêsus ( Lu-ca 8:2-3).
4.- Sống cho đẹp ý Chúa:’’ Vậy, hỡi anh  em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em.’’ ( Rô-ma 12:1 )
5.- Tin cậy Đức Chúa Trời:’’ Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thể nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.’’ ( Hê-bơ-rơ 11:6 )
6.- Vâng lời Đức Chúa Trời:’’ Vả, sự vâng lời tốt hơn của tế lễ; sự nghe theo tốt hơn mở chiên đực.’’ ( I Sa-mu-ên 15:22b).
7.- Phục vụ Đức Chúa Trời:’’ Vậy, hỡi anh  em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh  em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu.’’ ( I Cô-rinh-tô 15:58 )
Làm theo những điều này, người nhớ ơn Đức Chúa Trời sẽ thấy tâm hồn nhẹ nhàng thơ thới, vì mình tự cảm thấy thỏa lòng, mà Đức Chúa Trời cũng đẹp lòng nữa. A-men!

Mục sư Lâm Văn Minh
Hội Thánh Báp-Tít Orlando, Florida
Ngày 11-10-2009
Lần cập nhật cuối, Thứ tư, 17 Tháng 3 2010 13:57